5 BỆNH VỀ CƠ XƯƠNG KHỚP Ở TRẺ EM CHA MẸ NÊN LƯU Ý


Đăng bởi: www.thuocdieutribenhxuongkhop.com

Trẻ em là đối tượng cần lưu tâm nhất khi gặp vấn đề bệnh tật. Nhưng lại hay bị bỏ qua bởi mối dấu hiệu bệnh không rõ ràng và hay bị nhầm lẫn giữ các bệnh với nhau. Tuy nhiên loại bệnh mà cha mẹ nên đặc biệt lưu ý cho con đấy là bệnh cơ xương khớp. Vì chữa bệnh xương khớp khó có thể chữa khỏi hoàn toàn và để lại những biến chứng vô cùng nặng nề ảnh hưởng tới cuộc sống sinh hoạt của trẻ cả đời.

Benh xuong khop
Ảnh minh họa

5 bệnh về cơ xương khớp ở trẻ em mà cha mẹ nên đặc biệt chú ý :

1. Đau cơ, đau xương phát triển

Đây là loại bệnh cơ xương khớp rất hay gặp ở trẻ em, phổ biến ở trẻ từ 6 đến 12 tuổi. Bệnh tiến triển là do trẻ hoạt động quá mức hoặc lớn quá nhanh, xương phát triển chậm không theo kịp sự phát triển của cơ bắp. Biểu hiện của bệnh là đau chân dai dẳng, khó cử động. Trẻ thường đau vào buổi tối sau một ngày hoạt động.

Trẻ từ 12 đến 16 tuổi cũng thường xuyên mắc bệnh Osgood-Schlatter gây sưng đau ở vùng lồi củ trên xương chày, ngay dưới xương bánh chè, do vận động khớp quá mức. Bệnh có thể dẫn đến bệnh thoái hóa khớp gây viêm xương chày ngay phía dưới đầu gối, chỗ dây chằng rộng gắn vào. Dấu hiệu đặc trưng gồm căng cơ, đau và sưng ngay bên dưới gối và thường đau nhức hơn khi cử động.
Nếu đã bị bệnh, trẻ cần ngưng tất cả hoạt động thể lực cho đến khi khớp gối lành hẳn, trường hợp đau ít có thể tiếp tục vận động nhưng ở mức độ nhẹ hơn. Bệnh Osgood-Schlatter chỉ là tạm thời, và sẽ hết đau sau khi xương trẻ ngừng tăng trưởng ở độ tuổi trưởng thành.

2. Viêm cột sống dính khớp

Trẻ từ 8 đến 15 tuổi rất dễ mắc phải loại bệnh này. Biểu hiện của bệnh là đau cột sống lưng, lưng cứng, hạn chế vận động, đi lại khó khăn. Người bệnh sốt, gầy sút, mệt mỏi. Khi bệnh đã rõ, cột sống thắt lưng đau nhiều, tình trạng đau thường nặng về đêm, cứng cột sống, nhất là lúc sáng sớm mới ngủ dậy.

Khi thấy trẻ có những biểu hiện này nên đưa đi khám tại các chuyên khoa xương khớp để bác sĩ ra phác đồ điều trị càng sớm càng tốt. Bệnh diễn biến kéo dài có thể có những tổn thương nội tạng kèm theo. Sau một thời gian toàn bộ cột sống dính không còn khả năng vận động, bệnh nhân có thể bị gù, vẹo cột sống, không đứng thẳng, không ngồi xổm được. Bệnh còn có thể gây ra những biến chứng như suy hô hấp, tâm phế mãn, lao phổi, liệt hai chi dưới.

Ở giai đoạn sớm của bệnh, các bác sĩ có thể cho bệnh nhân dùng thuốc kết hợp với các biện pháp vật lý trị liệu nhằm giảm thiểu ảnh hưởng đến vận động của cột sống và khớp. Khi bệnh đã phát triển quá nặng, bên cạnh các điều trị nội khoa và vật lý trị liệu, phẫu thuật là biện pháp có thể cải thiện được về chức năng và hình thái của người bệnh.

3. Thấp khớp

Bệnh thấp khớp thường gặp ở trẻ 5-15 tuổi, bệnh phát triển mạnh vào mùa đông, hoặc mỗi khi thay đổi thời tiết.

Bệnh thường khởi đầu bằng viêm họng đỏ cấp tính, sốt và đau họng. Sau 7-10 ngày bệnh nhân có thể sốt cao, mệt mỏi, xanh xao, sưng, nóng đỏ và đau các khớp lớn như khớp vai, háng… kéo dài chừng 5-7 ngày rồi khỏi, không để lại di chứng gì.

Khi đã có chẩn đoán thấp khớp cấp, trẻ phải được điều trị phòng thấp để ngăn chặn sự tái phát và tránh tổn thương tim mạch.

4. Biến dạng cột sống (học đường)

Thường xảy ra ở trẻ trong độ tuổi cắp sách tới trường. Nguyên nhân có thể do trẻ đeo ba lô quá nặng, ngồi học không đúng tư thế…

Biểu hiện của bệnh rất dễ phát hiện như đi lệch về một bên, ngồi xiên xẹo, thường xuyên nhức mỏi lưng.
Cha mẹ nên quan tâm đến tư thế ngồi học của con và không cho chúng mang vác quá nhiều đồ nặng trên vai tránh trẻ bị biến dạng cột sống, tạo dáng đi xấu sau này. Trẻ bị biến dạng cột sống có thể sẽ phải nẹp đai cột sống để lấy lại dáng lưng thẳng và có thể gây thoát vị đĩa đệm ở trẻ nhỏ

5. Hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi

Bệnh này có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, là nguyên nhân hay gặp nhất trong các bệnh lý khớp háng.
Cơ chế gây hoại tử chỏm xương đùi thường do thiếu máu nuôi dưỡng sau gãy cổ xương đùi di lệch hoặc trật khớp háng; tắc nghẽn mạch do trật khớp háng, tăng áp lực trong xương, nhiễm độc… Ngoài ra, các yếu tố thuận lợi khiến bệnh tiến triển có thể kể đến như dùng Steroid dài ngày, nghiện rượu, thuốc lá, mắc bệnh gan, thận mãn tính…

Tùy vào từng trường hợp mà các bác sĩ cho dùng thuốc, kích thích điện hay tiến hành khoan giảm áp, ghép xương, đục xương sửa trục… Khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, các bác sĩ sẽ phải thay khớp háng nhân tạo giúp người bệnh hết đau, cải thiện chức năng khớp háng, đi lại, vận động tốt.

HÃY ĐẶT CÂU HỎI NGAY ĐỂ NHẬN TƯ VẤN MIỄN PHÍ TỪ CHÚNG TÔI

Đăng bình luận

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai.